Yên Thao, đời và thơ

Yên Thao

Cái đầu vẫn như mười năm về trước

Gia đình Nhà thơ Yên Thao vẫn tọa lạc trên mảnh đất vàng 78 Phố Huế, nhưng đã xây lầu cao nhiều tầng, ông ở tấng 7. Đến gặp ông không dễ, vì mở cửa thang máy bằng mật khẩu, nếu không được người nhà xuống đón thì chịu thua. Cách đây hơn một năm, tôi đến thăm ông đành phải nhờ người ở cạnh nhà 78 chuyển giúp quà và thư của tôi. Hôm nay là lần thứ ba, tôi gửi xe bên hội Nhà văn VN, cuốc bộ gần cây số đến trước cửa nhà ông, bốn cú gọi điện thoại không bắt máy, ba lần bấm chuông như không, tưởng lại thêm lần chào thua nữa. May có các cháu thuê nhà ông dưới tầng trệt, gọi bà giúp việc xuống đón, thế là cuộc gặp Yên Thao được thành công.

    Đã mấy năm ông nằm một chỗ, mọi sinh hoạt phải có người giúp, nhưng da dẻ vẫn hồng hào, đặc biệt là trí nhớ chưa có biểu hiện sa sút. Ông đọc hai ba bài thơ mới viết trong những năm loanh quanh trên giường bệnh, thơ ông vẫn đậm chất trữ tình chen trào phúng. Đời cầm bút của Yên Thao được bạn đọc nhớ nhiều là bài Nhà tôi viết từ năm 1948 khi ông là anh lính chiến, khiến ông lên bờ xuống ruộng một thời. Bài thơ được phổ nhạc và phát hành bên Mỹ rồi phổ biến trong khuôn khổ ở Việt Nam vào thời kỳ đổi mới. Sở trường của Yên Thao là thơ trào phúng, ngắn gọn, súc tích, dí dỏm, sâu cay với những đề tài khá độc đáo: Nói thì nói đến là dai / vừa nhạt vừa dài, đại khái chung chung. Ăn thì ăn đến là hung / như thể thần trùng, bọ xít, rầy nâu. Trụ thì trụ đến là lâu / trọc hếu cả đầu cũng chẳng về cho. Về thì việc nước ai lo / liên hoan xe đón xe đưa ai mời (!)  Em cầm lá phiếu trong tay / sướng như cầm miếng thịt quay húng lìu…

    Ông từng tham gia ban CH hội Văn nghệ Hà Nội, Chủ nhiệm CLB Thơ trào phúng Hà Nội nhiều năm, Trưởng ban Bạn đọc báo Hà Nội Mới cho đến ngày nghỉ hưu và cũng đến thời điểm này, ở tuổi trên 70 ông mới cầm thẻ Hội viên hội Nhà Văn Việt Nam, có lẽ vì cái bóng Nhà tôi đè lên ông nửa thế kỷ (?)

Việc nhà mặc vợ mặc con đã đành, việc công đối với ông cũng làm như chơi, chơi như làm, “vô lo”, chẳng bao giờ thấy Yên Thao vội vàng xốc nổi. Chất trầm tĩnh ở con người Yên Thao giúp ông xử sự thấu đáo về tình đời nghĩa thế và thu phục được lòng người nhờ tính hiền lành, rộng lượng. Tất nhiên, khi không ưa thì ông cũng tung đòn châm biếm mà ông nói đùa là “châm bướm” khá cay độc. Tôi còn nhớ một lần tại nhà tôi, Yên Thao và Việt Hồng tranh luận vấn đề gì đó về thơ, chẳng biết cáu thế nào mà Yên Thao vừa cười vừa bảo: Này, ông nói nhỏ thôi, tốt nhất là ông mua cái phéc-mơ-tuy khâu vào, khi không cần nói to thì kéo khóa lại (!) Đến nỗi Việt Hồng tức, bỏ ra về …

Vừa hàn huyên tâm sự, tôi lựa lời khơi gợi xem Yên Thao có gì khác về ý thức cuộc sống giường bệnh, nhưng hầu như không hề có. Vẫn Yên Thao hay cười, hay nói đùa, vẫn Yên Thao trào lộng, vẫn Yên Thao dành suy nghĩ cho thơ…Tôi thầm mừng cho Nhà thơ lão thành hơn chín thập niên sướng khổ, buồn vui giữa cõi người đáng thương hơn đáng giận ! Càng mừng cho phu nhân ông cũng minh mẫn với phong độ bà lão 90 hiếm có.Và, chắc chắn Yên Thao còn sống tiếp bởi như tôi nói đùa với ông: Này cụ ơi, chính quyền cõi âm cũng như chính quyền dương gian, không dại gì họ tuyển biên chế những tay bút “châm bướm” hay chọc ngoáy để khó cai trị (!)

    Tôi hỏi: Ông đi bộ đội mấy năm ?

    - Gần bảy năm, ông tủm tỉm trả lời.

    - Ông làm báo mấy năm ?

    - Từ năm 1948 và ông cho biết, từng làm phóng viên mặt trận của Đại đoàn…

Tôi nói, ông cứ nói chuyện tôi vừa nghe, vừa thảo câu đối tặng ông nhé !

- Tốt. Rồi Yên Thao chăm chú xem tôi viết câu đối khoán thủ từ dưới đây:

 

   YÊN            THAO

    vị               trường

vô               trận

   lo,               mạc,

ngót             non

trăm            bảy

 tuổi             xuân

vui              hóa

 làng            khúc

 thơ             nhạc

 nước          Nhà

Việt            tôi.

 

15-11-2017

Lê Khả Sỹ  đề tặng

Ông cho treo lên tường phía trước giường nằm của ông. Ông vẫn ngồi tiếp khách cho đến lúc bắt tay tiễn tồi ra về.

Hà Nội, 15-11-2017

Lê Khả Sỹ

-------------------------

Nhà tôi

Tác giả: Yên Thao

Tôi đứng bên này sông
Bên kia vùng địch đóng
Làng tôi đấy xạm đen màu tiết đọng
Tre cau buồn tóc rũ ướt mưa sương
Màu trắng vôi lồm lộp mấy khung tường
Nếp đình xưa người hỡi đau gì không ?

Tôi là anh lính chiến
Rời quê hương từ dạo máu khơi dòng
Buông tay gầu vui lại thuở bình mông
Ghì chắc súng nhớ ơi ngày chiến thắng
Chân chưa vẹt trên nẻo đường vạn dặm
Áo nào không phai nhạt chút màu xưa

Ðêm hôm nay tôi trở về lành lạnh
Sông sâu buồn lấp lánh sao lưa thưa
Tôi có người vợ trẻ đẹp như thơ
Tuổi chớm đôi mươì cười buổi dâng cờ
Má trắng mịn thơm thơm mùi lúa chín

Ai đi qua mà chẳng từng bịn rịn
Rời đau thương nào đã mấy ai vui ?
Em lặng buồn nhìn với lúc chia phôi
Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ

Tôi còn người mẹ
Tóc đã ngã màu bông
Tuổi già non thế kỷ
Lưng gầy uốn nặng kiếp long đong
Nắng mưa từ buổi tang chồng
Tơ tằm rút mãi cho lòng héo hon

Thôi xa rồi ! Mẹ tôi
Lệ nhòa mi mắt trông con phương trời
Có từng chợt tỉnh đêm vơi
Nghe giòn tiếng súng nhắc lời chia ly !
Mẹ ơi ! Con mẹ tìm đi
Bao giờ hết giặc con về mẹ vui

Ðêm nay lành lạnh
Sông sâu buồn lấp lánh sao lưa thưa
Ống quần nâu đã vá mụn giang hồ
Chắc tay súng tôi mơ về Nguyễn Huệ
Làng tôi đấy bên trại thù quạnh quẽ
Nằm im lìm như một nắm mồ ma
Có còn không ! Em hỡi mẹ tôi già ?
Những người thân khóc buổi tôi xa ?

Tôi là anh lính chiến
Theo quân về giải phóng quê hương
Mái đầu quấn bụi viễn phương
Bước chân đạp đất xiêu đồn lũy

Này anh chiến sĩ
Người bạn pháo binh
Ðã đến giờ chưa nhỉ ?
Mà tôi nghe như trại giặc tan tành

Anh rót cho khéo nhé !
Không lại nhầm nhà tôi
Nhà tôi ở cuối thôn Ðồi
Có giàn thiên lý
Có người tôi yêu !

Lê Khả Sỹ

Đáp từ

K/ gửi bạn THÁI HÀ

Cảm ơn bạn đã ghé thăm và cho thơ !

THÁI HÀ

CHÚC MÙNG

            CHÚC MỪNG

     Đã rồi kính Bác YÊN THAO

Nể  tài câu đối ứng vào cơ duyên

    Tâm tình tuổi ngót trăm niên

Chúc mừng một cặp người hiền uyên thâm

 

THÁI HÀ